Vi
Đào tạo nhân tài số cho kỷ nguyên AI: Lời giải từ mô hình hợp tác thực chất giữa UEH và doanh nghiệp

Đào tạo nhân tài số cho kỷ nguyên AI: Lời giải từ mô hình hợp tác thực chất giữa UEH và doanh nghiệp

Tại Hội nghị Cộng đồng Học thuật SAP lần đầu tiên tại Việt Nam diễn ra ở Đại học Kinh tế TP.HCM (UEH), bài tham luận của TS. Nguyễn Hoàng Lê, Viện trưởng Viện Phát triển Nguồn nhân lực và Kinh doanh (HUREDIN) đã mang đến những giải pháp thiết thực cùng câu trả lời toàn diện. Bằng góc nhìn quản trị sắc sảo kết hợp hệ thống dữ liệu thực tiễn, bài chia sẻ không chỉ làm rõ những điểm nghẽn của chuyển đổi số mà còn phác họa lộ trình hợp tác thực chất giữa nhà trường, doanh nghiệp và các nền tảng công nghệ toàn cầu.

Triển khai AI diện rộng: Khi điểm nghẽn không nằm ở công nghệ

Trong bài tham luận, TS. Nguyễn Hoàng Lê đã dẫn chứng báo cáo khảo sát của McKinsey cho thấy có tới 88% tổ chức đã sử dụng AI thường xuyên ở ít nhất một chức năng kinh doanh. Tuy nhiên, nếu nhìn vào các “tác nhân AI” – những hệ thống có khả năng tự xử lý chuỗi nhiều bước công việc, chỉ 23% tổ chức đang mở rộng triển khai và tỷ lệ này trong từng chức năng riêng lẻ không quá 10%.

Ở góc độ năng suất, nghiên cứu của Noy và Zhang chứng minh người làm công việc chuyên môn khi được hỗ trợ bởi ChatGPT giảm khoảng 40% thời gian hoàn thành và chất lượng đầu ra tăng 18%. Dù vậy, “làm nhanh hơn” không đồng nghĩa với “mọi kết quả đều đáng tin”.

Trong phần trình bày của mình, TS. Nguyễn Hoàng Lê đã chỉ ra sáu năng lực cần có của nhân tài số.

Khảo sát trên 319 lao động tri thức cho thấy khi đặt niềm tin cao vào AI, con người có xu hướng dành ít công sức hơn cho việc phản biện. Thực trạng này đặt ra yêu cầu mới cho giáo dục: Không chỉ dừng ở việc dạy người học biết sử dụng công cụ, mà quan trọng hơn là dạy họ biết kiểm tra, nhận định và chịu trách nhiệm với kết quả của mình.

Theo TS. Nguyễn Hoàng Lê, các con số phản ánh một thực tế về khoảng cách từ việc thử nghiệm một công cụ đơn lẻ đến việc thay đổi cách thức cả tổ chức vận hành vẫn còn rất lớn. Điểm nghẽn không nằm ở sức mạnh công nghệ, mà thuộc về con người, quy trình và năng lực ra quyết định.

Định hình 6 năng lực cốt lõi cho nhân tài số

Trình bày tại hội nghị, TS. Nguyễn Hoàng Lê đã chia sẻ về chủ đề “Phát triển nhân tài số, sẵn sàng cho tương lai”.

Do đó, TS. Nguyễn Hoàng Lê đặt ra hai câu hỏi: Khi AI có thể làm ngày càng nhiều việc, doanh nghiệp thực sự cần những con người có năng lực gì? Và các trường đại học phải hợp tác với doanh nghiệp như thế nào để chuẩn bị được đội ngũ đó?

“Các con số không nói rằng công nghệ thiếu sức mạnh. Chúng cho thấy khoảng cách từ thử nghiệm một công cụ đến thay đổi cách cả tổ chức vận hành vẫn còn khá lớn. Tôi cho rằng điểm nghẽn nằm nhiều ở con người, quy trình và cách ra quyết định”, Viện trưởng HUREDIN nhấn mạnh.

AI giúp làm nhanh hơn, nhưng ai kiểm chứng kết quả? Khả năng tăng năng suất của AI là điều khó phủ nhận. AI giúp nhanh chóng hoàn thành công việc, nhưng làm nhanh hơn không có nghĩa là mọi kết quả đều đáng tin. Vì vậy, cần dạy người học biết sử dụng công cụ, biết kiểm tra, nhận định và chịu trách nhiệm với kết quả của mình.

TS. Nguyễn Hoàng Lê đã chỉ ra sáu năng lực cần có của nhân tài số là: Người học cần được trang bị chuyên môn sâu; tư duy hệ thống; năng lực dữ liệu và AI; tư duy phản biện; khả năng phối hợp với AI và làm việc liên ngành. Trong đó, chuyên môn giúp biết mình làm đúng hay sai, tư duy hệ thống giúp biết mình có đang đi đúng hướng hay không.

Phân tích sâu hơn về sáu năng lực cần có này, TS. Nguyễn Hoàng Lê cho rằng, nhân tài số cần nhiều hơn một vài kỹ năng sử dụng AI. Theo đó, một nhân tài số cần 2 tố chất cốt lõi là chuyên môn sâu được ví giống như chiếc mỏ neo và tư duy hệ thống được xem như bánh lái.

Có thể ví dụ sinh động như người học kế toán, tài chính hay quản trị phải hiểu nghiệp vụ thì mới nhận ra một đề xuất của AI có hợp lý hay không và khi đó một quyết định mua hàng hay đầu tư không chỉ ảnh hưởng đến bộ phận mua hàng mà còn liên quan tồn kho, dòng tiền, thanh toán và lợi nhuận. Trên một nền tảng tích hợp như SAP, mối liên hệ đó thể hiện rất rõ.

Vì vậy, để đổi mới đào tạo theo hướng từ đào tạo rồi tuyển dụng đến cùng giải quyết vấn đề thực tế, nhà trường không thể chỉ thay đổi những gì diễn ra trong lớp học, cũng phải thay đổi cách hợp tác với doanh nghiệp. Viện trưởng HUREDIN cho biết, mô hình này vẫn cần thiết, nhưng chưa đủ trong bối cảnh công nghệ thay đổi rất nhanh. Doanh nghiệp có thể tham gia sớm hơn bằng cách cùng xây dựng tình huống, cung cấp vấn đề thực tế và cử chuyên gia hướng dẫn.

TS. Nguyễn Hoàng Lê khẳng định để đổi mới hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo thì doanh nghiệp có thể tham gia sớm hơn bằng cách cùng xây dựng tình huống, cung cấp vấn đề thực tế và cử chuyên gia hướng dẫn. 

Chuyển dịch hợp tác: Từ “tuyển dụng đơn thuần” đến “cùng giải quyết bài toán thực tế”

Viện trưởng HUREDIN cho rằng đổi mới đào tạo theo hướng từ đào tạo rồi tuyển dụng và đáp ứng yêu cầu phát triển mới thì nhà trường không thể chỉ thay đổi những gì diễn ra trong lớp học, mà cũng cần thay đổi cách hợp tác, liên kết với doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ thay đổi phương thức thôi chưa đủ, vì trong bối cảnh công nghệ thay đổi rất nhanh. Do đó, cần đổi mới phương pháp liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp, để sao cho doanh nghiệp có thể tham gia từ đầu vào quá trình đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, có kỹ năng.

Mô hình truyền thống “Đại học đào tạo – Doanh nghiệp tuyển dụng” đã không còn đủ trong bối cảnh công nghệ thay đổi quá nhanh. Doanh nghiệp cần tham gia sớm hơn thông qua mô hình hợp tác năm bước đi vào thực chất: bắt đầu từ việc doanh nghiệp nêu bài toán thực tế; hai bên thống nhất mục tiêu và phương pháp; giảng viên, sinh viên cùng chuyên gia doanh nghiệp phối hợp phát triển giải pháp; tổ chức thử nghiệm trong môi trường kiểm soát; cuối cùng là đánh giá, cập nhật để quay về phục vụ cải tiến hoạt động của doanh nghiệp lẫn chương trình đào tạo của nhà trường.

Mô hình hợp tác này có thể triển khai qua bốn hướng cụ thể: Đầu tiên là học tập gắn với thực tiễn qua các tình huống và dự án sinh viên; tiếp theo là nghiên cứu ứng dụng để thử nghiệm giải pháp cho bài toán doanh nghiệp; hướng thứ ba là đổi mới sáng tạo nhằm thương mại hóa các ý tưởng tiềm năng và cuối cùng là nghiên cứu phát triển bền vững giải quyết các vấn đề đô thị, môi trường. Với các nền tảng như SAP, hợp tác có thể bắt đầu từ việc dạy học ERP rồi mở rộng sang nghiên cứu ứng dụng dữ liệu.

Không phải doanh nghiệp nào cũng cần tham gia tất cả các hướng này. Điều quan trọng là mỗi bên chọn điểm bắt đầu phù hợp với nhu cầu và nguồn lực của mình. Với SAP, cơ hội có thể bắt đầu từ dạy học ERP, rồi phát triển dần sang nghiên cứu và ứng dụng dữ liệu.

Nền tảng thực thi từ hệ sinh thái UEH và Viện HUREDIN

Để hiện thực hóa các định hướng hợp tác, UEH và Viện HUREDIN đã tích lũy hệ sinh thái thực thi mạnh mẽ thông qua những minh chứng thực tế rõ ràng.

Tại Hội nghị Cộng đồng Học thuật SAP Việt Nam 2026, UEH đã ký kết các thỏa thuận hợp tác với SAP Việt Nam và các doanh nghiệp trong hệ sinh thái SAP, nhằm cụ thể hóa hoạt động kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo, nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực số.

Trong đào tạo, chương trình Kế toán ERP của Viện HUREDIN đã đưa hệ thống SAP S/4HANA vào giảng dạy với sự phối hợp của NGI Group, giúp học viên thực hành nghiệp vụ trực tiếp trên quy trình chuẩn của doanh nghiệp. Ở góc độ học qua dự án và phản biện, tiêu biểu như chương trình UII Sandbox, qua 15 tuần ươm tạo đã ghi nhận 17 dự án hoàn thiện sản phẩm mẫu và 11 dự án trực tiếp bảo vệ trước hội đồng chuyên gia. Tại đây, sinh viên phải đứng ra giải thích, tiếp nhận phản biện và chứng minh tính khả thi của giải pháp chứ không chỉ nộp bài báo cáo đơn thuần.

Bên cạnh đó, mô hình Green Campus Living Lab là minh chứng cho việc nghiên cứu gắn liền với vận hành thực tế. Bằng cách biến chính khuôn viên trường thành môi trường thử nghiệm, chương trình đã ghi nhận 71 bài nghiên cứu, 47 giải pháp ứng dụng và tạo ra khoảng 470.000 kWh điện mặt trời. Bài toán vận hành thực tế trở thành đối tượng nghiên cứu, và kết quả lại quay ngược lại phục vụ vận hành.

Ở hướng đổi mới sáng tạo và thương mại hóa, khi triển khai nhiệm vụ khoa học công nghệ của TP.HCM, chương trình đã lựa chọn ươm tạo 10 dự án chuyển đổi số. Kết quả cho thấy cả 10 dự án đều phát triển được sản phẩm mẫu, trong đó sáu dự án đã phát sinh doanh thu và hai dự án chính thức thành lập doanh nghiệp độc lập.

Khép lại bài tham luận, Viện trưởng HUREDIN đề xuất ba hành động trọng tâm có thể bắt đầu ngay cùng SAP và cộng đồng doanh nghiệp ở quy mô phù hợp. Một là UEH và doanh nghiệp cùng xác định nhu cầu kỹ năng để thiết kế các chương trình học ngắn, cập nhật nhanh, có đánh giá đầu ra rõ ràng. Hai là lựa chọn các bài toán doanh nghiệp cụ thể để nghiên cứu và thử nghiệm giải pháp trên nguồn dữ liệu cho phép. Ba là tạo điều kiện ươm tạo cho các ý tưởng tốt từ sinh viên và giảng viên được tiếp cận thị trường.

“Với UEH, thước đo quan trọng nhất không chỉ là số lượng chương trình hay biên bản ký kết, mà là năng lực thực sự của người học và những giá trị thực tế mà doanh nghiệp có thể đưa vào sử dụng”, Viện trưởng HUREDIN nhấn mạnh.

Bài, ảnh: Viện Phát triển Nguồn nhân lực và Kinh doanh – UEH

TIN TỨC LIÊN QUAN